![]() |
| Amply TECHNICS SU - 8044 Giá : 800.000 vnđ - Call : 0913.899.629 |
Thứ Tư, 12 tháng 9, 2012
Thứ Ba, 11 tháng 9, 2012
Mô tả link tiêu đề bài viết blog
Khi đưa chuột vào tiêu đề bài viết, bạn sẽ thấy hiện lên phần mô tả cho đường link đó. Điều này cũng giống như khi bạn tạo một liên kết mới và thêm thẻ title để miêu tả cho liên kết khi đưa trỏ chuột tới. Về mặt cảm quan thì mình thấy nó cũng khá đẹp, đồng thời nó cũng có tác dụng hỗ trợ SEO. Rất nhiều blog sử dụng tính năng này.
Chúng ta sẽ thêm một đoạn code nhỏ để nó tự động làm việc này đối với mỗi tiêu đề bài viết.
Bạn vào phần chỉnh sửa HTML, chọn Expand Widget Templates. Tìm tới đoạn code:
<a expr:href='data:post.link'><data:post.title/></a>Và thay thế nó bằng:
<a expr:href='data:post.link' expr:title='data:post.title'><data:post.title/></a>Tiếp tục tìm tới đoạn code:
<a expr:href='data:post.url'><data:post.title/></a>Và thay thế nó bằng:
<a expr:href='data:post.url' expr:title='data:post.title'><data:post.title/></a>
Bạn lưu template và kiểm tra kết quả.
Tùy chỉnh URL của bài viết trên Blogger
Ở giao diện mới, Blogger đã cho phép tùy chỉnh địa chỉ URL mặc định của bài viết trên blog. Đây là tùy chọn để thu gọn địa chỉ url và để tối ưu hóa bộ máy tìm kiếm.
Lưu ý:
- Tùy chọn này chỉ ở giao diện mới.
- Không bỏ được thông tin tháng và năm trong địa chỉ URL.
- Không thể tùy chỉnh những bài viết cũ, bài đã đăng.
- Phần địa chỉ tùy chỉnh này chỉ chứa số, chữ và gạch ngang.
Thay đổi địa chỉ URL của bài viết như thế nào?
Các thực hiện rất đơn giản, đăng nhập Blogger tạo bài viết mới, gõ tiêu đề, chọn lliên kết cố định (góc bên phải), chọn Liên kết cố định tùy chỉnh URL (Custom URL) để thay đổi.
Thứ Hai, 10 tháng 9, 2012
Rau mồng tơi tốt cho đường ruột
Rau mồng tơi là món ăn không thể thiếu khi trong người nóng nực sinh ra táo bón. Bà con chỉ biết đến tác dụng nhuận trường của mồng tơi, nhưng mồng tơi còn nhiều tác dụng khác.
Rau mồng tơi tên khoa học là Basella rubra, họ Mồng tơi.
Rau mồng tơi còn có các tên mùng tơi, tầm tơi, tên Hán là lạc quỳ, chung quỳ, yên chi thái, đằng thái.
Theo Đông y, mồng tơi có vị chua ngọt, không độc, tính lạnh, có tác dụng giải độc, thanh nhiệt, hoạt tràng...
Trị táo bón: mồng tơi 200 - 500g, thêm gia vị luộc ăn. Tính hoạt trường của rau mồng tơi nhờ chất nhày làm cho phân mềm, chất xơ kích thích nhu động ruột.
Hoặc dùng rau mồng tơi luộc chấm muối mè (vừng). Rau mồng tơi làm cho phân mềm, chất dầu của vừng làm cho phân trơn. Cả hai hiệp đồng là một cặp kết hợp rất thích hợp trị táo bón. Sử dụng vài ngày là đại tiện sẽ thông, không còn táo bón.
Mùa hè, thời tiết nắng nóng, nhiều người bị táo bón, một bài thuốc rất đơn giản bằng rau mồng tơi là lấy một nắm lá mồng tơi rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt pha thêm một ít nước đun sôi để nguội uống một lần.
Trị táo bón lâu ngày gây thoát giang: lá mồng tơi, lá vông non mỗi thứ 30g, rễ đinh lăng 20g, củ mài 12g (thái mỏng sao vàng), vừng đen 30g (rang nổ), sắc với 600ml nước còn 300ml. Người lớn chia 2 lần, trẻ em tùy tuổi dùng ít hơn.
Trị trĩ: lấy một nắm lá mồng tơi rửa sạch, giã nát nhuyễn cùng vài hạt muối đắp vào chỗ trĩ sưng, đồng thời nấu canh mồng tơi ăn với cá diếc (ăn cả nước và cái), rất hiệu nghiệm.
Trị đại tiện ra máu kinh niên (lâu ngày): rau mồng tơi 30g, gà mái già 1 con (bỏ đầu, chân, nội tạng) hầm lên ăn. Chú ý khi thịt gà chín mới cho mồng tơi vào, nấu thêm 20 phút bắc ra là ăn được. Hiệu quả rất tốt.
Trị đầy bụng: rau mồng tơi 50g, rau đay 50g, khoai sọ 1 củ (bóc vỏ thái nhỏ) nấu canh ăn vài ba ngày. Hoặc dùng 4 loại rau sau đây với lượng bằng nhau nấu canh: mồng tơi, đay, rau khoai, rau má.
Có người vào mùa hè và đầu thu, cảm thấy trong người phiền muộn, trong bụng nóng bức, đại tiện táo bón, miệng hôi, mắt đỏ, uống nước liên miên, ngứa ngoài da, thậm chí nổi lên những đốm đỏ, chỉ cần ăn vài lần mồng tơi nấu với đậu hũ thì đại, tiểu tiện sẽ thông suốt, tất cả các chứng trên cũng sẽ biến mất.
Trị kiết lỵ: nếu do trường vị có “thấp nhiệt” gây nên kiết lỵ, lúc đầu, trong ngày đi tiêu mười mấy lần, lúc đi tiêu hậu môn cảm thấy nóng rát, bụng đau rất khó chịu, đi tiêu rồi vẫn cảm thấy chưa ổn, mỗi lần đi tiêu lượng phân không nhiều, chỉ có một chút nước bọt màu vàng, miệng hôi, đắng, mắt đỏ, muốn uống nước, sợ nóng thích mát, bụng, ngực cảm thấy bồn chồn khó chịu, nấu nhiều rau mồng tơi trên lửa nhỏ thật lâu, làm canh để ăn, sẽ có hiệu quả tốt. Rau mồng tơi có tính chất nhuận hoạt, có thể thanh trừ chất thấp nhiệt ứ ở trong trường vị, nhờ đại, tiểu tiện bài tiết ra ngoài, cho nên trị được bệnh kiết lỵ. Mồng tơi tuy tính chất hàn lương, nhưng chỉ cần nấu lâu, tính mát lạnh sẽ giảm, cho dù người sức khỏe hơi kém, nếu không ăn quá nhiều thì cũng không sao. Nhưng nếu chỉ luộc sơ mà uống, dạ dày dễ bị lạnh, uống vào sẽ bị nôn mửa.
Giảm chất béo, cholesterol: chất nhầy của rau mồng tơi có tác dụng hấp thu cholesterol trong muối mật và trong thực phẩm: cholesterol nội sinh và ngoại sinh đều bị giữ lại trong ruột. Vì cholesterol bị khóa hoạt tính nên chất béo trong thực phẩm không ngấm được qua màng ruột, cholesterol sẽ bị thải ra ngoài qua phân.
Giảm thân trọng: người mập phì muốn giảm thân trọng nên ăn rau mồng tơi vì nó có khả năng sinh nhiệt thấp, lại thông tiểu và nhuận tràng.
Tán nhiệt vào những ngày nóng nực: mồng tơi có tác dụng tán nhiệt, vì vậy, nên ăn mồng tơi vào mùa nóng nực. Nên nấu canh mồng tơi với cua, đây là một cặp kết hợp hay vì cả hai món này đều giải nhiệt. Người có tỳ vị hư hàn (đầy bụng), bệnh mới khỏi, phụ nữ mới sinh không nên ăn canh cua mồng tơi nhưng có thể ăn món canh mồng tơi nấu với thịt heo và đậu hũ. Đậu hũ tạo tủa pectat calci trong nồi canh nóng, giảm tính hàn.
Mùa hè, đối với người làm việc dưới ánh nắng mặt trời, thường do ra mồ hôi quá nhiều, ảnh hưởng đến tiểu tiện không bình thường, nước tiểu màu vàng mà lượng nước lại ít, lúc đi tiểu đường tiểu có cảm giác nóng rát, và đại tiện thì táo bón. Gặp trường hợp này, dùng 50 - 100g mồng tơi nấu canh ăn, không những có thể làm cho đại tiểu tiện trở lại bình thường, mà còn có thể giải trừ thử nhiệt, phòng ngừa bệnh nóng sốt xảy ra.
Trị nhức đầu do đi nắng: lá mồng tơi giã nhuyễn lấy nước uống, bã đắp vào 2 bên thái dương băng lại.
Trị trong ngực bồn chồn, đầy tức: mồng tơi 60g sắc lấy nước đặc, hòa thêm chút rượu trắng uống khi nước còn ấm.
Trị chảy máu mũi (chảy máu cam) do huyết nhiệt: mồng tơi tươi giã nát rồi lấy bông thấm vào nước cốt nhét vào lỗ mũi bên bệnh.
Tăng sữa cho sản phụ sau sinh: phụ nữ sau khi sinh ít sữa, ăn rau mồng tơi sẽ nhiều sữa hơn. Trong rau mồng tơi có các vitamin A3, B3, chất saponin, chất nhầy và chất sắt sẽ rất tốt cho thai phụ… Món ăn nấu từ mùng tơi với gà ác, đậu đen ninh nhừ ăn nóng sẽ giúp sản phụ nhiều sữa, mau hồi phục sức khỏe lại có làn da hồng hào, tóc đen mượt.
Trị khí hư, suy nhược: gà ác 1 con, lá mồng tơi 1 nắm, đậu đen 1 nắm, ninh nhừ ăn nóng cả nước và cái. Mỗi tuần ăn 1 - 2 lần. Khi thấy có kết quả, cho thêm một nắm đậu nành, 2 nắm đậu phộng, vừa ngon miệng vừa có tính bồi bổ. Món này giúp phụ nữ bồi dưỡng sau sinh và làm cho da hồng hào, tóc đen mượt. Người bị đau dạ dày, ợ chua ăn cũng tốt.
Bổ dương cường thận: canh rau mồng tơi phối hợp với tôm.Tôm tươi bóc vỏ bỏ đầu ướp hành muối xào sơ, chế nước dùng sôi cho rau mồng tơi sôi lại, ăn mỗi tuần 2 - 3 lần.
Trị yếu sinh lý: rau mồng tơi, rau ngót, rau má, bộ lòng gà hay vịt, nấu canh ăn nóng sẽ giúp trị chứng yếu sinh lý ở nam giới rất hiệu quả.
Trị di mộng tinh: rau mồng tơi, đậu nành, đậu phộng, mỗi thứ một nắm (50g) nấu với 1 - 2kg xương heo (xương ống tốt hơn). Hầm kỹ xương heo trong nồi áp suất rồi mới cho đậu phộng vào, cuối cùng cho rau mồng tơi, nấu thêm 10 phút. Ăn nóng, ăn xong uống nước nóng.
Trị hoạt tinh: trường hợp tinh xuất quá nhanh và sau giao hợp thường bị mệt mỏi đuối sức, xanh xao, lấy rau mồng tơi 1 nắm, rau dền tía 1 nắm, nấu với một đôi bầu dục heo hoặc dê (để nguyên lớp mỡ và vỏ bọc), ăn nóng. Ăn xong uống nước trà gừng nóng. Trước khi đi ngủ ăn 1 thìa vừng đen đã rang thơm, nhai kỹ nhuyễn rồi nuốt, sau đó uống 1 chén nước cơm rượu.
Trị tiểu tiện không thông, tiểu dắt, tiểu nhỏ giọt (do nhiệt): 100g mồng tơi, sắc nước uống trong ngày thay trà, có hiệu quả tốt.
Trị tiểu tiện buốt nóng: lá mồng tơi 1 nắm, giã nhuyễn, lấy nước cốt pha thêm nước, chắt lấy nước, uống nóng với ít hạt muối, bã đắp vùng bàng quang (bụng dưới).
Trị bỏng (lửa, nước sôi…): dùng mồng tơi tươi giã nát, lấy nước bôi lên chỗ da bị bỏng sẽ mau lành.
Trị vết thương phần mềm: mồng tơi trộn với đường phèn, giã nát, đắp vào chỗ bị thương sẽ giúp cầm máu, vết thương mau lành.
Trị chứng huyết vận (da sưng đỏ do máu tụ lại): mồng tơi 12 - 20g, muối 2g, giã nát, đắp ngày 2 lần.
Giúp da tươi nhuận, hồng hào: lá mồng tơi còn có tác dụng dưỡng da. Ăn rau mồng tơi giúp lưu thông khí huyết, nhuận tràng giúp da dẻ mịn màng, tươi trẻ. Hoặc để dưỡng da, làm mịn nếp nhăn ở mặt, chống thô ráp có thể lấy vài lá mồng tơi non giã lấy nước cốt, cho vài hạt muối, thoa đều lên mặt vài lần trước khi đi ngủ.
Để da tươi nhuận hồng hào: dùng rau mồng tơi nấu canh với cá trê vàng, mỗi tuần ăn 1 lần.
Rau mồng tơi tính mát lạnh, vì vậy dùng cẩn thận với người hay bị lạnh bụng, đại tiện lỏng. Để bớt lạnh, nên nấu kỹ.
Lá mồng tơi có tác dụng dưỡng da. Ăn rau mồng tơi giúp lưu thông khí huyết, nhuận tràng giúp da dẻ mịn màng, tươi trẻ. Hoặc để dưỡng da, làm mịn nếp nhăn ở mặt, chống thô ráp có thể lấy vài lá mồng tơi non giã lấy nước cốt, cho vài hạt muối, thoa đều lên mặt vài lần trước khi đi ngủ.
Theo suckhoedoisong.vn
Kinh nghiệm dân gian phòng chống viêm loét miệng
Viêm loét miệng là tình trạng bệnh lý thường gặp, biểu hiện chủ yếu là xuất hiện các vết loét ở niêm mạc khoang miệng và lưỡi với kích thước to nhỏ không đều nhau, ban đầu thường viêm đỏ sau loét rộng ra và có giả mạc màu vàng bẩn bám chắc, rất đau đớn. Bệnh nặng nhẹ tùy người, rất dễ tái phát, thậm chí có trường hợp xuất hiện nhiều vết loét rải rác cả khoang miệng, kích thước rộng và dễ xuất huyết khiến cho người bệnh vô cùng khổ sở, nhất là khi ăn uống.
Trong y học cổ truyền, viêm loét niêm mạc miệng thuộc phạm vi các chứng bệnh như “khẩu cam”, “khẩu sang”, “khẩu dương”... với nguyên nhân chủ yếu là do hư hoả hay thực hoả tác động vào các tạng phủ gây nên. Một trong những biện pháp trị liệu đơn giản của Đông y đối với căn bệnh này là sử dụng các kinh nghiệm dân gian hết sức phong phú.
Hình ảnh viêm loét trong miệng. |
Thuốc ngậm
Rễ cây hoa tường vi 50 - 100g, sắc kỹ lấy nước ngậm nhiều lần trong ngày.
Hoàng liên 10g, sắc kỹ với 100ml nước, ngậm vài lần trong ngày.
Lá đạm trúc diệp tươi lượng vừa đủ, sắc kỹ lấy nước hòa thêm băng phiến 1g, dùng làm nước ngậm vài ba lần trong ngày.
Tạo phàn 5g, kha tử 10g, tỳ bà diệp 15g, sắc kỹ lấy nước ngậm 4 - 6 lần trong ngày.
Mật ong 50g, đại thanh diệp 15g, hai thứ sắc kỹ lấy nước ngậm nhiều lần trong ngày.
Thuốc dán
Dùng phụ tử chế hoặc ngô thù du và đinh hương lượng vừa đủ, tán bột, hòa với nước hoặc dấm chua, đắp lên huyệt dũng tuyền cả hai bên, cố định bằng băng dính, mỗi ngày thay thuốc 1 lần. Vị trí huyệt dũng tuyền: là điểm nối giữa 2/5 trước và 3/5 sau của đoạn nối đầu ngón chân thứ hai và điểm giữa bờ sau gót chân, trong chỗ lõm ở gan bàn chân.
Tế tân lượng vừa đủ, sấy khô, tán bột, trộn với dầu vừng hoặc dấm chua lâu năm thành dạng cao rồi đắp vào rốn, mỗi ngày thay thuốc 1 lần.
Ngô thù du 8g, đại hoàng 4g, đởm tinh 2g, sấy khô tán bột, trộn với dấm chua, đắp vào huyệt dũng tuyền.
Tỏi tươi 1 củ giã nát, ngô thù du 30g tán bột, hai thứ trộn đều với dấm chua, đắp vào huyệt dũng tuyền cả hai bên.
Chi tử sống 10g, sinh đại hoàng 10g, băng phiến 5g, ba thứ tán bột, trộn với dấm, đắp vào rốn.
Hoàng liên sắc lấy nước ngậm vài lần trong ngày để chữa viêm loét miệng. |
Thuốc bôi
Ngũ bội tử 10g, minh phàn 10g, băng phiến 3g, tất cả tán thành bột mịn, đựng trong lọ kín dùng dần, mỗi lần dùng tăm bông ướt lấy một ít bột thuốc chấm vào vết loét, mỗi ngày 2 lần.
Hoàng liên 10g, đại hoàng 10g, thanh đại 30g, xạ hương 1g, tất cả tán thành bột thật mịn, đựng trong lọ kín dùng dần, mỗi lần lấy một ít thuốc chấm vào vết loét, mỗi ngày 2 lần.
Lá nữ trinh tử non (cây xấu hổ) 10g, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước, bôi vào vết loét nhiều lần trong ngày.
Hồng táo 25g, hành củ (còn cả rễ) 5 củ, sắc kỹ lấy nước hòa thêm 0,9g băng phiến, dùng làm thuốc bôi vết loét 2 lần trong ngày.
Nghệ vàng 8g, băng phiến 3g, nhi trà 7g, mật gấu khô 0,5g, sấy khô tán bột, trộn đều, dùng làm thuốc bôi 2 lần trong ngày.
Hoàng liên và can khương lượng bằng nhau, sấy khô tán bột, chấm vết loét 3 lần trong ngày.
Theo suckhoedoisong.vn
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


