Thứ Hai, 20 tháng 8, 2012

Bánh cuốn chả Phủ Lý

Những ai đã từng đi qua mảnh đất Hà Nam hẳn không quên hương vị món bánh cuốn chả nướng thơm lừng, vừa dân dã vừa đượm tình người xứ chiêm.

Nổi tiếng với chùm thơ Thu của cụ tam Nguyên Yên Đổ và câu chuyện tình yêu Chí Phèo - Thị Nở thì nay những ai đã từng đi qua mảnh đất Hà Nam hẳn không quên hương vị món bánh cuốn chả nướng thơm lừng, vừa dân dã vừa đượm tình người xứ chiêm.
Bánh cuốn vốn là thức bánh quen thuộc của người dân Hà Thành, nhưng không giống bánh cuốn Thanh Trì, bánh cuốn làng Kênh Nam Định…bánh cuốn Phủ Lý có hương vị rất riêng, gần gũi với ẩm thực Hà Nội, nhẹ nhàng mà tinh tế.
Vào mùa nóng, ăn bánh cuốn chả Phủ Lý sẽ không bị nóng và ngán như bánh cuốn thịt bình thường. 
Bánh cuốn được làm từ gạo tẻ, trắng ngần và tráng mỏng, dụng cụ làm bánh cũng khá đơn giản. Thường thì khi khách tới ăn, chủ quán mới bắt đầu tráng bánh để bánh vừa nóng, vừa thơm mùi của gạo. Bàn tay nhanh thoăn thoắt múc gáo bột tráng đều trên khuôn tròn, nhanh tay dùng gáo láng cho bột tráng mỏng trên mặt khuôn, chừng mấy phút là được mẻ bánh. Bánh lấy ra phải trắng muốt, óng ả và không được rách, miếng bánh phủ chút hành khô phi thơm dậy mùi.
Bánh cuốn Phủ Lý ăn kèm với chả nướng. Thịt tẩm ướp gia vị rồi xiên vào que tre đem nướng trên than hoa hồng rực tỏa mùi thơm phức. Những miếng thịt xèo xèo trên than, vàng ruộm, thỉnh thoảng những giọt mỡ ngậy chảy xuống làm than lại rực cháy. Chả khi chín phải vàng xém cạnh, thịt săn lại, chỉ cần ngửi mùi quạt chả của chủ quán, nhiều thực khách đã thòm thèm.
Đĩa bánh cuốn trắng tinh dẻo mềm với lớp hành phi vàng óng.
Chả nướng sẽ được chan nước chấm nóng với đủ vị mặn, ngọt, chua, cay, nhưng các vị đều rất hài hòa, rắc chút hạt tiêu và thêm đu đủ xanh. Bát nước chấm đậm màu của nước mắm, xanh xanh của đu đủ, vàng của chả nướng.
Bánh cuốn ăn kèm với đôi ba quả sung nếp, rau húng, ít giá và hoa chuối, thân chuối nõn thái chỉ. Với những khách sành ăn thường gọi nước chấm có thêm vài giọt tinh dầu cà cuống. Theo như lời một chủ quán, tinh dầu này làm cho nước chấm đậm đà hơn và thực khách sẽ nhớ mãi hương vị riêng của bánh cuốn chả nướng nơi đây.
Chả nướng ăn với bánh cuốn đậm đà.
Nét độc đáo nữa là có thể ăn kẹp bánh cuốn với bánh đa nướng. Một miếng bánh cuốn nóng sẽ được kẹp trong hai lớp bánh đa quạt vừng, bẻ ra từng miếng nhỏ đặt trên đĩa. Cắn miếng bánh đa vừng giòn rụm bùi bùi quyện với lớp bánh cuốn mịn béo, ngon là lạ thật thú vị.
Bất kể ai đã từng vào Nam ra Bắc qua Phủ Lý đều dừng chân thử món ngon này và ăn một lần vẫn muốn ăn nữa. Để phục vụ thực khách nhiều quán bánh cuốn chả Phủ Lý đã bán cả ngày lẫn đêm, mà quán lúc nào cũng đông nghịt khách. Món bánh cuốn chả nướng Phủ Lý còn chinh phục cả thực khách Hà thành sành ăn. Hai năm gần đây, đã có nhiều quán được mở trên các phố phường Hà Nội.


Chuối ngự Đại Hoàng (Hoà Hậu - Lý Nhân)

Đại Hoàng ngoài đặc sản nổi tiếng là cá kho cổ truyền, còn có một đặc sản nổi tiếng từ lâu đời, đã từng được đưa tiến Vua nên được gọi tên là “Ngự”: đó là Chuối Ngự. 


Chuyện kể: vào thời Trần,hàng năm Vua Trần cùng đoàn tuỳ tùng, văn võ bá quan, cờ xí rợp trời xuôi thuyền từ Thăng Long về hành cung Thiên Trường yết kiến Thái Thượng Hoàng. Một lần đến ngã 3 Tuần Vường, đoàn thuyền dừng lại. Dân các làng đổ ra mừng đón. Mọi người ai cũng mang của ngon, vật lạ ra dâng tiến vua. Có một đôi vợ chồng nông dân nghèo ở làng Đại hoàng vì không có vật gì dâng tiến nên rất lấy làm băn khoăn. May sao trong vườn nhà còn một buồng chuối nhỏ xinh xắn đã chín, toả hương thơm ngát, họ bèn chặt hạ, đưa tiến vua với niềm cung kính mong được nhà Vua cảm thông. Trông thấy buồng chuối nhỏ nhưng rất đẹp, quả căng tròn, vàng óng, cuống xanh, đầu ruồi có 3 chiếc tua cong đẹp mắt lạ thường…vua cho gọi vào. Nhà Vua bèn nếm thử, thấy vị ngọt, hương thơm, càng ăn càng thấy ngon. Vua ban thưởng và truyền cho dân làng Đại Hoàng nhân rộng loại chuối này để cho thần dân của Ngài khắp nơi được cùng thưởng thức. Từ đó loại chuối này ở Đại Hoàng được mang tên Chuối Ngự, lưu truyền đến ngày nay và nổi tiếng khắp nơi. Tuy nhiên giống chuối này nếu đưa trồng nơi khác Ngài làng Đại Hoàng quả cũng có hình dáng tương tự nhưng không có vị ngon và hương thơm của chuối Ngự. Chuối Ngự trở thành đặc sản duy nhất ở Đại Hoàng mới có.
Những ai muốn thưởng thức chuối Ngự, xin mời về làng Đại Hoàng nay là Xã  Hòa Hậu - Huyện Lý Nhân - Tỉnh Hà Nam để vừa có thể thưởng thức chuối ngự, vừa có thể thăm lăng mộ Nam cao và được nghe nhiều câu chuyện hay về "làng Vũ Đại ngày ấy"............

Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2012

Cây cúc tần

  • Chữa cảm sốt bằng cây cúc tần

Cúc tần còn có tên khác là cây lức, từ bi, phật phà (Tày), là loại cây bụi, cao 1-2m. Cành mảnh, có lông sau nhẵn. Lá mọc so le, màu lục xám, mép khía răng, gần như không cuống. Hoa tím nhạt, hình đầu, mọc thành ngù ở ngọn. Quả nhỏ, có cạnh. Toàn cây có lông tơ và mùi thơm. Trên cây thường có dây tơ hồng mọc và sống ký sinh.
Cây mọc hoang và được trồng làm hàng rào ở khắp nơi. Toàn cây (lá, cành, rễ) đều có thể dùng làm thuốc. Lá thường dùng tươi (hái lá non và lá bánh tẻ) thu hái quanh năm, cành và rễ thường dùng khô. Theo nghiên cứu lá chứa 2,9% protein. Toàn cây có acid chlorogenic, tinh dầu.
Theo y học cổ truyền, cúc tần có vị đắng, cay, thơm, tính ấm. Công dụng tán phong hàn, lợi tiểu, tiêu độc, tiêu ứ, tiêu đờm, sát trùng, làm ăn ngon miệng, giúp tiêu hoá. Thường dùng chữa cảm sốt không ra mồ hôi, nhức đầu, thấp khớp, đau lưng, nhức xương, chấn thương,…


Một số đơn thuốc có sử dụng cúc tần:

Chữa cảm sốt không ra mồ hôi, nhức đầu: Lá cúc tần tươi 2 phần, lá sả một phần, lá chanh một phần (mỗi phần khoảng 10g) đem sắc với nước, uống khi còn nóng. Cho thêm nước vào phần bã đun sôi, dùng để xông cho ra mồ hôi, có tác dụng giảm sốt, giải cảm.
Chữa đau mỏi lưng: Lấy lá cúc tần và cành non đem giã nát, thêm ít rượu sao nóng lên, đắp vào nơi đau ở hai bên thận.
Thấp khớp, đau nhức xương: Rễ cúc tần 15-20g, sắc nước uống. Có thể phối hợp với rễ trinh nữ 20g, rễ bưởi bung 20g, đinh lăng 10g, cam thảo dây 10g, sắc uống. Dùng 5-7 ngày.
Chữa đau đầu do suy nghĩ nhiều, tinh thần căng thẳng: Cúc tần 50g, hoa cúc trắng 50g (xé nhỏ), đu đủ vừa chín tới 100g, óc lợn 100g. Cho cúc tần, hoa cúc trắng, đu đủ vào nồi, thêm 1 lít nước đun sôi. Sau đó cho óc lợn vào đun thêm 20 phút cho nhừ là ăn được. Ăn nóng trước bữa cơm, 2 lần/ngày, ăn liền 1 tuần.
Chữa ho do viêm khí quản: 20g cúc tần già rửa sạch, băm nhỏ, 2 nắm gạo, 3g gừng tươi, cắt nhỏ, 50g thịt lợn nạc băm nhuyễn. Tất cả đem nấu cháo chín nhừ. Ăn nóng khi đói, ngày 3 lần, ăn liên tục 3 ngày sẽ đỡ.
Chữa chấn thương bầm tím: Lấy một nắm lá cúc tần rửa sạch, giã nát nhuyễn đắp vào chỗ bầm tím sẽ mau lành. 

Hình ảnh về Sa Pa

Ảnh: dothang - Nokia E6



Ảnh: dothang - Nokia E6



Ảnh: dothang - Nokia E6



Ảnh: dothang - Nokia E6



Ảnh: dothang - Nokia E6



Ảnh: dothang - Nokia E6



Ảnh: dothang - Nokia E6



Ảnh: dothang - Nokia E6



Ảnh: dothang - Nokia E6



Ảnh: dothang - Nokia E6



Ảnh: dothang - Nokia E6



Ảnh: dothang - Nokia E6



Ảnh: dothang - Nokia E6

Hồ Thác Bà Yên Bái

Ảnh: dothang - Nokia E6


Ảnh: dothang - Nokia E6

Ảnh: dothang - Nokia E6

Ảnh: dothang - Nokia E6

Ảnh: dothang - Nokia E6

Ảnh: dothang - Nokia E6

Ảnh: dothang - Nokia E6

Ảnh: dothang - Nokia E6


Đền mẫu Âu Cơ Phú Thọ


Ảnh: dothang - Nokia E6


Ảnh: dothang - Nokia E6


Ảnh: dothang - Nokia E6

Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012

Đền Bà Vũ (Chân Lý - Lý Nhân)

Đền Bà Vũ nằm ngay sát ven bờ sông Hồng ở phía bắc xã Chân Lý. Từ thành phố Phủ Lý theo đường 971 về thị trấn Vĩnh Trụ, đi tiếp ra Cầu Không, rẽ trái lên Vũ Điện theo đường Phú Trạm là đến di tích.


Đền thờ bà Vũ Thị Thiết, người con gái phủ Nam Xang đã sớm được chép vào sách Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Chuyện kể rằng, ở trang Vũ Điện, phủ Nam Xang có một người phụ nữ tên là Vũ Thị Thiết, vợ chàng Trương sinh là người cùng làng. Mới lấy nhau được ít lâu thì chàng Trương phải ra trận dẹp giặc. Nàng sinh được một đứa con trai tên là Đản. Để dỗ con, tối đến, nàng chỉ lên cái bóng trên vách và bảo với con đó là bố. Khi Trương Sinh trở về, đứa bé không chịu nhận bố, nói rằng có một ông bố khác tối mới đến chơi. Trương Sinh ngờ vực vợ có tư tình với ai thì lửa giận bốc lên ngùn ngụt, mắng nhiếc vợ thậm tệ, không để vợ giãi bày. Nàng Vũ ôm mỗi oan không thể tỏ bày ra sông tự vẫn.

Tối đến, thấy con chỉ cái bóng trên vách bảo đó là bố, Trương Sinh mới biết mình nhầm, hối không kịp nữa. Chàng lập đền giải oan cho vợ ở bến sông, nơi nàng vừa tự tận. Dân làng thương tiếc người con gái nhân hậu của quê hương cũng lập đền thờ nàng. Ngôi đền rất linh thiêng.

Tương truyền, đền bà Vũ đã từng âm phù cho đại quân của vua Lê Thánh Thông thắng trận. Khi đại quân khải hoàn, nhà vua xuống chiếu cho quan dân địa phương Vũ Điện sửa lại ngôi đền khang trang hơn. Thuyền bè qua lại vùng sông nước này thường đến lễ ở đền bà để xin bà phù hộ cho thuận buồm xuôi gió. Ngôi đền linh thiêng với câu chuyện thương tâm của bà Vũ đã từng là đề tài cho biết bao thi nhân như Lê Thánh Tông, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến…

Những lời thơ của các thi nhân đã nói hộ lòng thương tiếc, ước muốn giải oan cho người phụ nữ chịu nhiều đau khổ, mối đồng cảm sâu sắc của người đời đối với nỗi oan trái hãy còn dằng dặc ở trên đời và lòng ngưỡng mộ đối với moọt tấm gương trinh liệt. Phải chăng vì thế mà ngôi đền thờ bà đã và vẫn sẽ còn có sức thu hút mối quan tâm của nhiều vãn khách xa gần.

Theo truyền thuyết của người dân địa phương thì ngôi đền này được xây dựng từ thế kỷ XV, ngay sau cái chết oan uổng của bà Vũ. Ban đầu chỉ là ngôi miếu nhỏ nứa lá tranh tre do dân địa phương dựng nên. Sau khi có chiếu của vua Lê Thánh Thông, ngôi miếu mới được sửa lại thành một ngôi đền bề thế, khang trang. Ban đầu, ngôi đền được xây dựng ngoài bãi ven sông Hồng, trên một bãi đất rộng mấy chục mẫu, dân cư sống thành làng. sau vì nước lũ xói mòn, bãi bị lở nên đền phải dời vào vị trí như hiện nay.

Đền áp sát vào khu vực đê bối ven sông Hồng. Bốn cột đồng trụ xây ngay trên mặt đê, mặt quay ra sông theo hướng Bắc, cao vượt tầm những cây cổ thụ xung quanh. Sân đền nằm dưới chân đê bối, phải qua 6 bậc mới xuống được. Giữa hai cột đồng trụ là cổng chính, hai bên là hai cổng phụ tấm mái cửa vòm. Đền được kiến trúc theo kiểu chữ tam khép kín, đằng trước là 7 gian tiền đường với hệ thống vì kèo biến thể giá chiêng chồng rường con nhị.

Công trình này trốn cột, các xà đều gác lên tường. Hai đầu hồi bít đốc, mái lợp ngói nam. Ba gian giữa có hệ thống cửa gỗ lim bức bàn, phần trên cửa là chấn song con tiện. Khu trung đường làm cao lên hẳn theo kiểu chồng diêm gồm hai tầng mái, mỗi lớp 4 mái có đao góc uốn cong, mái được lợp bằng ngói vẩy. Mặt trước ba gian chính tẩm là hệ thống cửa bức bàn. Công trình được khép kín bởi hai dãy nhà 3 gian nối khu chính tẩm với khu trung đường, dãy nhà 3 gian ở phía tây khu trung đường và bức tường xây phía đông khu trung đường nối với tòa tiền đường. Ngôi đền chắc chắn đã trải qua nhiều lần trùng tu, hiện nay đền mang phong cách kiến trúc của thế kỷ XIX.

Đền còn giữ lại được một số hiện vật quý. Chẳng hạn ở đây còn giữ được chiếc khánh thời Lê Trung Hưng, nó được đúc vào năm Kỷ Mão niên hiệu Chính Hòa năm thứ 20 (1699), quả chuông đồng đúc vào thời Tây Sơn, năm Cảnh Thịnh cửu niên (1801), pho tượng đồng tạc bà Vũ không rõ niên đại.